CHUYÊN ĐỀ SINH HOẠT CỤM MÔN NGỮ VĂN LẦN 2

Ngày đăng: Lượt xem:

DẠY HỌC NGỮ VĂN THCS THEO CHUỖI 5 HOẠT ĐỘNG HỌC
CỦA HỌC SINH

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Những năm gần đây, việc dạy học Ngữ Văn trong nhà trường có nhiều chuyển biến; thể hiện rõ nhất là yêu cầu chuyển từ dạy học nội dung sang dạy học phát triển năng lực. Từ thực tế đó, tiến trình dạy học cũng có nhiều thay đổi nhất là hoạt động dạy và hoạt động học; hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh cần phải đảm bảo sự thống nhất, tương tác. Trong đó, giáo viên giữ vai trò chỉ đạo, hướng dẫn, trọng tài; học sinh không chỉ là đối tượng của hoạt động dạy mà cũng chính là chủ thể của hoạt động học. Vì vậy, tiến trình dạy học được thực hiện theo chuỗi hoạt động học của HS là thực sự cần thiết.
Tuy nhiên, từ thực tế giảng dạy của bản thân cũng như việc đi dự giờ đồng nghiệp chúng tôi thấy rằng tiến trình dạy học được thực hiện thông qua các hoạt động của HS chưa thực sự rõ ràng, GV vẫn còn lúng túng trong việc thực hiện, sự sáng tạo trong việc đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh… chưa nhiều. Dạy học vẫn nặng về truyền thụ kiến thức. Việc rèn luyện kỹ năng chưa được quan tâm. Tất cả những điều đó dẫn tới học sinh học thụ động, lúng túng khi giải quyết các tình huống trong thực tiễn.
Vì những lí do trên, chúng tôi thực hiện nghiên cứu chuyên đề: “Dạy học Ngữ Văn THCS theo chuỗi 5 hoạt động học của học sinh”.

II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Thế nào là dạy học theo hoạt động học
Dạy học thông qua các hoạt động theo một quy trình để phát triển năng lực. Giáo viên là người thiết kế, hướng dẫn học sinh thực hiện các hoạt động để đạt được những mục đích cụ thể. Học sinh chủ động, tích cực thực hiện các hoạt động dưới sự hướng dẫn của giáo viên với các hình thức học tập khác nhau.
Dạy học theo hoạt động học cần chú trọng:
– Dạy cách học.
– Những đơn vị kiến thức có khả năng áp dụng vào thực tiễn.
– Vận dụng tri thức được học vào giải quyết các tình huống, vấn đề trong thực tiễn.
2. Các bước thực hiện trong mỗi hoạt động học của học sinh
Mỗi hoạt động học có thể sử dụng một kĩ thuật dạy học tích cực hay phương pháp nào đó để tổ chức những đều được thực hiện theo các bước như sau:
– Chuyển giao nhiệm vụ học tập
– Thực hiện nhiệm vụ học tập
– Báo cáo kết quả và thảo luận.
– Ðánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập
Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ học tập
+ Nhiệm vụ học tập rõ ràng và phù hợp với khả nãng của học sinh.
+ Hình thức giao nhiệm vụ sinh động, hấp dẫn.
+ Lựa chọn tình huống có tiềm ẩn vấn đề, kỹ thuật dạy học tích cực.
+ Cần quan sát, trao đổi với học sinh.
Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ học tập
+ Khuyến khích học sinh hợp tác với nhau khi thực hiện nhiệm vụ học tập; phát hiện kịp thời những khó khăn của học sinh và có biện pháp hỗ trợ phù hợp, hiệu quả; không có học sinh bị “bỏ quên”.
+ Học sinh hoạt động tự lực giải quyết nhiệm vụ (Cá nhân, cặp đôi hoặc nhóm nhỏ).
Bước 3: Báo cáo kết quả và thảo luận
+ Hình thức báo cáo phù hợp với nội dung học tập và kĩ thuật dạy học tích cực được sử dụng; khuyến khích cho học sinh trao đổi, thảo luận với nhau về nội dung học tập; xử lí những tình huống sư phạm nảy sinh một cách hợp lí.
+ Sử dụng kĩ thuật được lựa chọn, giáo viên tổ chức cho học sinh báo cáo và thảo luận về kết quả thực hiện nhiệm vụ.
Bước 4: Ðánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập
Nhận xét về quá trình thực hiện nhiệm vụ học tập của học sinh; phân tích, nhận xét, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ và những ý kiến thảo luận của học sinh; chính xác hóa các kiến thức mà học sinh đã học được thông qua hoạt động.
3. Tiến trình dạy học
3.1. So sánh tiến trình dạy học (theo định hướng nội dung) và tiến trình dạy học (theo định hướng năng lực)
Tiến trình dạy học (theo định hướng nội dung) Tiến trình dạy học (theo định hướng năng lực)
Bước 1 Ổn định lớp Khởi động
Bước 2 Kiểm tra bài cũ Hình thành kiến thức
Bước 3 Dạy bài mới Luyện tập/thực hành
Bước 4 Củng cố kiến thức Vận dụng/ứng dụng
Bước 5 Dặn dò Tìm tòi, mở rộng kiến thức
Có thể nhận thấy các bước trong thiết kế tiến trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực đã đặt người học vào vị trí trung tâm. Mọi hoạt động đều hướng vào việc khơi gợi hứng thú, hình thành tinh thần tự học, tự chiếm lĩnh tri thức cho học sinh, đồng thời chú trọng vào việc áp dụng kiến thức đã học vào thực tiễn.
Trong khi đó, tiến trình dạy học theo định hướng nội dung chỉ tập trung vào hoạt động của GV (GV ổn định, GV kiểm tra…).
3.2. Thực trạng
* Hoạt động khởi động
– Trong phương pháp dạy học truyền thống, chúng ta thường thấy những lời vào bài mượt mà, trơn tru với câu từ bay bổng, trau chuốt của giáo viên. Để có được lời vào bài đầy tính nghệ thuật như vậy đòi hỏi giáo viên phải có sự am hiểu sâu sắc tác giả, tác phẩm, nội dung bài học cùng những vấn đề có liên quan rồi chuyển hóa thành câu từ kết hợp với giọng đọc hay nói diễn cảm, thuyết phục. Tuy nhiên, lời vào bài có hay đến đâu cũng chỉ là hoạt động khởi động cho giáo viên là chủ yếu. Bởi học sinh vẫn đóng vai trò thụ động lắng nghe, được “ru vỗ” bằng những lời có cánh. Còn cảm xúc, hứng thú chỉ là sự “lây lan” từ giáo viên sang học sinh chứ không phải được khơi dậy, hình thành từ sự hoạt động của học sinh.
– Một số GV thực hiện hoạt động khởi động nhưng chưa phát huy được tính tích cực của hoạt động này:
+ Giáo viên lạm dụng hoạt động này như tổ chức trò chơi, múa hát không ăn nhập với bài học, hoặc chỉ “vào bài” với cái tên mà ai cũng biết.
+ Giáo viên còn dành thời gian cho hoạt động này quá ít vì chưa coi đó là một hoạt động học tập, chưa cho các em suy nghĩ, bày tỏ ý kiến của mình, giáo viên cố gắng giảng giải, chốt kiến thức ngay ở hoạt động này.
*Hoạt động hình thành kiến thức
Trên thực tế khi thực hiện hoạt động này đa phần giáo viên triển khai nội dung từ đầu đến cuối, lấy kiến thức làm mục tiêu hướng tới; do đó càng cung cấp nhiều nội dung, học sinh biết càng nhiều càng tốt. Cách dạy học này không quan tâm nhiều đến việc vận dụng những kiến thức đã biết vào hiểu và thực hành, liên hệ và ứng dụng vào các tình huống của đời sống.
Trong những năm học vừa qua, nhận thức của đội ngũ giáo viên về tính cấp thiết phải đổi mới phương pháp dạy học đã thay đổi và có nhiều chuyển biến; việc áp dụng những phương pháp dạy học tích cực đã được thực hiện. Tuy nhiên cách thực hiện, hiệu quả giảng dạy để đạt được mục tiêu của nó là chưa cao, ví dụ như: Phương pháp thảo luận nhóm được tổ chức nhưng chủ yếu vẫn dựa vào một vài cá nhân học sinh tích cực tham gia, các thành viên còn lại còn dựa dẫm, ỷ lại chưa thực sự chủ động. Mục đích của thảo luận nhóm chưa đạt được tính dân chủ – mọi cá nhân được tự do bày tỏ quan điểm, thói quen bình đẳng, biết đón nhận quan điểm bất đồng để hình thành quan điểm cá nhân.
*Hoạt động luyện tập/ thực hành
Đa phần khi thực hiện hoạt động này GV thường cho HS tiến hành giải bài tập lần lượt theo trình tự SGK.
GV chưa xác định đúng mục tiêu của các bài tập/ nhiệm vụ trong hoạt động luyện tập là tập trung hướng đến việc hình thành các kĩ năng cho học sinh, khác với các bài tập hoạt động hình thành kiến thức mới chủ yếu hướng tới việc khám phá tri thức.
*Hoạt động vận dụng/ứng dụng
– Đây không chỉ là hoạt động củng cố, khắc sâu kiến thức, nội dung bài học mà còn là hoạt động giúp các em vận dụng được những gì mà các em học được trong đời sống hàng ngày. Hoạt động này có thể không tổ chức ở trên lớp. Tuy nhiên, nhiều GV vẫn chưa chú ý đến hoạt động này.
*Hoạt động tìm tòi mở rộng
– GV chưa xác định được mục đích của hoạt động này là giúp học sinh không ngừng tiến tới, không bao giờ dừng lại với những gì đã học và hiểu rằng ngoài những kiến thức được học trong nhà trường còn rất nhiều điều có thể và cần phải tiếp tục học, góp phần học tập suốt đời. Vì vậy có nhiều giáo viên còn chưa chú trọng đến hoạt động này hoặc có yêu cầu HS thực hiện nhưng không kiểm tra, không cho HS báo cáo phần tìm tòi của mình.
3.3. Cách thức tiến hành hoạt động
3.3.1. Hoạt động khởi động
Hoạt động khởi động (tạo tình huống xuất phát), rất cần thiết trong dạy học nhằm huy động vốn kiến thức và kĩ năng đã có để chuẩn bị tiếp nhận kiến thức và kĩ năng mới của học sinh. Ở hoạt động này, giáo viện cần tạo ra những tình huống, những vấn đề mà ở đó người học cần huy động tất cả các kiến thức hiện có, những kinh nghiệm, vốn sống của mình để cố gắng nhìn nhận, giải quyết vấn đề theo cách riêng của mình và học sinh cảm thấy mình thiếu hụt thông tin. Vì vậy, mục đích của hoạt động này có thể tóm gọn như sau:
– Tạo tâm thế học tập cho học sinh
– Học sinh thấy vấn đề gần gũi hơn, khơi gợi trí tò mò và muốn khám phá, lĩnh hội tri thức mới.
– Tạo không khí vui tươi, thoải mái, tâm lí chờ đợi, thích thú cho học sinh.
– Giúp học sinh phát huy năng lực hợp tác, sáng tạo, giải quyết vấn đề, sử dụng ngôn ngữ.
– Từ mục đích trên, ta thấy rằng hoạt động khởi động (hoạt động tạo tình huống xuất phát) là một hoạt động học tập, như vậy nhiệm vụ chuyển giao của giáo viên phải rõ ràng, học sinh phải được bày tỏ ý kiến riêng của mình cũng như ý kiến riêng của nhóm về vấn đề đó.
Giáo viên tạo tình huống học tập dựa trên việc huy động kiến thức, kĩ năng của học sinh có liên quan đến vấn đề xuất hiện trong nội dung bài học làm bộc lộ cái học sinh đã biết, bổ khuyết những gì học sinh còn thiếu, giúp học sinh nhận ra cái chưa biết và muốn biết thông qua hoạt động này. Vì vậy, các câu hỏi hay nhiệm vụ trong hoạt động khởi động là những câu hỏi hay vấn đề mở, chưa cần học sinh phải có câu trả lời hoàn chỉnh.
Giáo viên có thể sử dụng một số cách sau để thực hiện hoạt động này:
+ Khai thác kênh nhạc, phim, hình
+ Kể chuyện, hát
+ Câu hỏi, bài tập trên phiếu học tập
+ Tạo tình huống có vấn đề
+ Tổ chức trò chơi để kiểm tra bài học cũ, kết nối bài học mới (Ví dụ: Trò chơi tiếp sức, trò chơi giải ô chữ, trò chơi truyền mật thư…)
*Ví dụ minh họa
Tiếng Việt:“Từ tượng hình, từ tượng thanh” – Ngữ Văn 8 – Tập 1
Cách thức tiến hành: Trò chơi “Hiểu ‎ý đồng đội”
(1) Chuyển giao nhiệm vụ học tập (2) Thực hiện nhiệm vụ học tập (3) Báo cáo kết quả và thảo luận (4) Ðánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập
-Bước 1: GV ghi vào giấy các từ khóa “lom khom”, “cốc cốc”
-Bước 2: Gọi HS lên bảng diễn tả bằng hành động từng từ khóa.(Không được nói)
-Bước 3: HS dưới lớp theo dõi hành động đoán từ khóa cần tìm. – HS lên bảng diễn tả hành động
– HS dưới lớp đoán từ khóa qua hành động. – HS trả lời từng từ khóa. -GV nhận xét.
-Dẫn vào bài từ tượng hình, từ tượng thanh qua hai từ khóa “lom khom ”, “lốc cốc”.
Văn bản: “Trong lòng mẹ” – Ngữ Văn 8 – tập 1
Cách thức tiến hành: Tổ chức trò chơi Giải ô chữ để kiểm tra bài học cũ “Tôi đi học”, kết nối bài học mới “Trong lòng mẹ”.
– GV có thể cho HS dẫn chương trình.
Nội dung:
+ Hàng ngang số 1: Tác phẩm “Tôi đi học” của tác giả nào?
+ Hàng ngang số 2: Thầy hiệu trưởng trong văn bản được gọi là gì?
+Hàng ngang số 3: Tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ nào có sức gợi cảm cao trong văn bản? (có 6 chữ cái)
+Hàng ngang số 4: Tìm từ có cùng trường nghĩa với từ “tựu trường” (có 9 chữ cái)
(Lưu ý: ô chữ hàng dọc có thể thiếu dấu thanh) -Người dẫn chương trình cho HS trả lời từng câu hỏi. -HS trả lời
-HS có thể đoán ô chữ hàng dọc. – Người dẫn chương trình đưa ra đáp án qua mỗi câu hỏi.
– Ô chữ hàng dọc là “HỒNG”.
– Từ từ khóa này GV dẫn vào bài mới: Hồng là tên của một chú bé trong văn bản chúng ta sẽ tìm hiểu hôm nay?
– GV ghi điểm HS trả lời đúng.
Đáp án
T H A N H T Ị N H
Ô N G Đ Ố C
S O S Á N H
K H A I G I Ả N G
1
2

3
4

3.3.2. Hoạt động hình thành kiến thức
Bên cạnh những những phương pháp dạy học theo đặc trưng bộ môn GV cần áp dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực để đáp ứng với yêu cầu dạy học Ngữ Văn theo hướng hình thành và phát triển năng lực:
Các phương pháp dạy học tích cực: Thảo luận nhóm, đóng vai, nghiên cứu tình huống, dạy học theo dự án…
Các kĩ thuật dạy học tích cực: Kĩ thuật chia nhóm, kĩ thuật đặt câu hỏi, kĩ thuật “Khăn trải bàn”, kĩ thuật “Phòng tranh”, kĩ thuật “Trình bày 1 phút”, kĩ thuật “Bản đồ tư duy”…
Bên cạnh đó, GV có thể tổ chức các hoạt động như “Tiếp sức”, “Đố bạn”, “Ai nhanh hơn”… để khai thác năng lực cần đạt.
– Kết thúc hoạt động, giáo viên sẽ cùng HS tổ chức đánh giá, phân tích nhằm rút ra những bài học và giáo viên sẽ kết luận lại vấn đề.
– Ngoài ra, để nắm bắt mức độ hiểu bài của học sinh, tôi thường cho các em làm phiếu học tập, sau đó thu lại chấm lấy điểm. Nội dung câu hỏi ở các phiếu học tập là các câu hỏi đánh giá, tổng kết từng phần hoặc đánh giá tổng kết toàn bộ bài học.
*Ví dụ
(1) Chuyển giao nhiệm vụ học tập (2) Thực hiện nhiệm vụ học tập
(3) Báo cáo kết quả và thảo luận (4) Ðánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập
Văn bản: “Những câu hát về tình yêu quê hương đất nước, con người”
(Tìm hiểu Bài ca dao số 1) – Ngữ Văn 7 – Tập 1
Cách tiến hành: “Đố bạn”
(Với cách tiến hành như thế này, thay vì GV hỏi HS trả lời thì phương pháp này HS hỏi, HS trả lời, GV là người chỉ dẫn).
– Cách tiến hành:
Bước 1: GV phát phiếu học tập có các câu hỏi theo kịch bản của GV(Tùy từng đối tượng HS mà GV ra câu hỏi cho phù hợp).
+Câu 1: Bài ca dao có thể chia làm mấy phần? Mỗi phần là lời của ai?
+Câu 2: Bài ca dao được viết theo hình thức nào?
+Câu 3: Chàng trai hỏi những gì? Và cô gái trả lời như thế nào?
+ Câu 4: Vì sao chàng trai và cô gái lại dùng những địa danh với những đặc điểm của từng địa danh như vậy để hỏi đáp?
Bước 2: Cho HS thảo luận nhóm (2 – 4 HS), GV ấn định thời gian thảo luận.
Bước 3: GV gọi một HS của một nhóm bất kì đại diện cho nhóm xung phong hỏi câu hỏi 1.
+Câu 1: Bài ca dao có thể chia làm mấy phần? Mỗi phần là lời của ai?
Bước 4: HS đó mời 1 nhóm trả lời câu hỏi 1 (nếu các nhóm còn lại có ý kiến khác thì cho bổ sung).
Bài ca dao có 2 phần:
+ Phần 1: Câu hỏi của chàng trai.
+ Phần 2: Lời đáp của cô gái.
Bước 5: Cuối cùng HS đó đưa ra đáp án của nhóm mình. (Nếu không trùng thì bổ sung, nếu trùng với câu trả lời của nhóm khác thì thôi).
Bước 6: GV nhận xét chung. GV có thể giảng giải thêm để làm sáng tỏ vấn đề.
*Lưu ý : Khi GV nhận xét chung sau mỗi câu hỏi, GV có thể xen kẽ vào lời giảng, lời bình để làm sáng tỏ vấn đề.
Bước 7: GV tiếp tục cho nhóm có câu trả lời đúng được quyền đặt câu hỏi số 2 và tiếp tục làm như nhóm đầu tiên cho đến khi hết câu hỏi.
3.3.3. Hoạt động luyện tập/ thực hành
– GV giao các bài tập, nhiệm vụ yêu cầu HS củng cố các kiến thức vừa học và rèn luyện các kĩ năng liên quan, thực hành theo tình huống giả định.
– Đưa ra những lưu ý với các đối tượng đặc biệt (HS có năng lực: bài tập nâng cao, HS yếu: lưu ý gì?) để cá thể hóa các đối tượng.
– Sử dụng các phướng pháp dạy học tích cực như: thảo luận; kĩ thuật tích cực như: Hỏi chuyên gia; tổ chức các hoạt động như tiếp sức, ai nhanh hơn…
*Ví dụ:
Văn bản: “Chị em Thúy Kiều” – Ngữ Văn 9 – Tập 1
(1) Chuyển giao nhiệm vụ học tập (2) Thực hiện nhiệm vụ học tập
(3) Báo cáo kết quả và thảo luận (4) Ðánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập
-Bước 1: GV nêu yêu cầu bài tập: Nhìn hình ảnh, phát hiện những cụm từ, câu thơ có trong đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” minh họa cho nét đẹp của Thúy Kiều, Thúy Vân được gợi tả qua hình ảnh đó.
-Bước 2: GV trình chiếu 9 hình ảnh đã được che lấp và gọi 3 HS xung phong trả lời (Hình ảnh bên dưới) Bước 3: HS xung phong -> GV chọn 3 HS và yều cầu mỗi HS chọn 3 hình ngẫu nhiên.
– GV chọn 1 thư ký ghi và tổng hợp điểm (Mỗi hình ảnh trả lời đúng: 3 điểm + 1 điểm trả lời nhanh = 10 điểm)
-Bước 4: GV trình chiếu lần lượt các hình ảnh (Từ 1 đến 9) -> HS theo hình ảnh đã chọn tự suy nghĩ, trả lời -> GV mở đáp án lần lượt sau câu trả lời của HS -> – HS tự nhận xét câu trả lời đúng hoặc sai của mình -> GV chốt điểm -> Thư ký ghi điểm
-Bước 5: Thư kư tổng hợp điểm -> GV ghi điểm vào sổ (Lấy điểm kiểm tra miệng)
H.1

“Khuôn trăng đầy đặn”=>Gợi tả khuôn mặt phúc hậu Thúy Vân.

H.5

“Mây thua nước tóc”=>Gợi tả mái tóc bồng bềnh của Thúy Vân.
H.6

“Mai cốt cách”=> Gợi tả dáng vẻ thanh tú của chị em Thúy Kiều. H.2

“Cung thương làu bậc ngũ âm/ Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương”=>Tài đàn của Thúy Kiều.
H.7

(có thể 2 đáp án)
“tuyết tinh thần”
=>Gợi tả tâm hồn trắng trong của chị em Kiều hoặc “tuyết nhường màu da” =>Gợi tả làn da trắng của Thúy Vân. H.3

“Hoa cười”=>
Gợi tả nụ cười tươi của Thúy Vân .

H.8

“Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm ”=> Tài làm thơ của Thúy Kiều.

H.4

“Làn thu thủy” => Gợi tả đôi mắt xanh trong của Thúy Kiều.

H.9

… “Ngọc thốt đoan trang” => Gợi tả giọng nói trong trẻo Thúy Vân.
* Ví dụ 2:
Tiếng Việt: “Từ đồng nghĩa” – Lớp 7 – tập 1
Cách tiến hành: Trò chơi “Ai nhanh hơn”
(Chỉ với một trò chơi chúng ta đã giải quyết được 3 bài tập, ngoài ra qua hoạt động này còn giúp các em tự tin hơn khi giải quyết những tình huống thực tiễn, hoạt bát, nhanh nhẹn hơn).
(1) Chuyển giao nhiệm vụ học tập (2) Thực hiện nhiệm vụ học tập
(3) Báo cáo kết quả và thảo luận (4) Ðánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập
– Thực hiện các yêu cầu bên dưới bằng trò chơi “Ai nhanh hơn”. GV trình chiếu bài tập.
Bài 1: Tìm từ Hán – Việt đồng nghĩa với các từ sau: gan dạ, nhà thơ, mổ xẻ, của cải.
Bài 2: Tìm từ có gốc Ấn – Âu đồng nghĩa với các từ sau: máy thu thanh, sinh tố, xe hơi, dương cầm.
Bài 3: Tìm từ địa phương đồng nghĩa với từ toàn dân sau: ngô, lạc, mướp đắng, củ mì. Cách chơi:
– Chọn ra 3 HS
– GV sử dụng đồng hồ đếm ngược, trong thời gian 15 giây, HS nào hoàn thành xong và đúng yêu cầu thì sẽ thắng.
– HS đọc lại đáp án của mình – HS nhận xét
– GV kết luận.
3.3.4. Hoạt động vận dụng/ứng dụng
– Vận dụng kiến thức đọc hiểu để giải thích, phân tích một hiện tượng văn học, văn hóa khác tương ứng. Ví dụ: giải thích câu tục ngữ, phân tích bài ca dao, nêu ý kiến về một hiện tượng văn hóa, vận dụng phương pháp đọc văn bản để tìm hiểu một văn bản tương đương,…
– Vận dụng kiến thức, kĩ năng Tiếng Việt để giải quyết một số vấn đề, như: giải nghĩa, tìm từ loại, xác định cấu tạo từ, phong cách ngôn ngữ,… trong các hiện tượng ngôn ngữ của cuộc sống.
– Tiếp tục rèn luyện kĩ năng Làm văn để nói, viết, trình bày,… tạo lập các văn bản với phương thức biểu đạt tương ứng với nội dung bài học.
*Ví dụ:
Văn bản: “ Một thứ quà của lúa non – Cốm” – Ngữ Văn 7 – Tập 1
(1) Chuyển giao nhiệm vụ học tập
(2) Thực hiện nhiệm vụ học tập (3) Báo cáo kết quả và thảo luận (4) Ðánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập
– GV chia lớp thành 02 đội/nhóm lớn, thể hiện sự tán thành hoặc không tán thành về vấn đề sau: Ý kiến dưới đây của Thạch Lam trong bài viết có còn đúng trong bối cảnh cuộc sống hôm nay không?
Ý kiến của Thạch Lam: “…những thức quý của đất nước mình thay dần bằng những thức bóng bảy hào nhoáng và thô kệch bắt chước người ngoài.”
NHÓM 1 NHÓM 2
Bằng lí lẽ và dẫn chứng thể hiện rõ sự tán thành
………………
…………….. Bằng lí lẽ và dẫn chứng thể hiện rõ sự không tán thành
……………………
……………………..
– GV tiến hành cho HS thảo luận và ghi kết quả vào bảng phụ.

– HS đại diện trình bày kết quả thảo luận.

– HS nhận xét, bổ sung, GV đánh giá, kết luận.

Văn bản “ Thông tin về Ngày trái đất năm 2000” – Ngữ Văn 8 – Tập 1
– GV nêu ra tình huống có vấn đề như sau: Em của em ăn gói xôi nóng được gói vào trong bao ni lông màu và bị ngộ độc. Mẹ em nói rằng xôi mẹ mới nấu mà sao bị ngộ độc được. Nếu là em, em sẽ giải thích như thế nào? (GV trình chiếu câu hỏi cho HS dễ quan sát).
-HS thảo luận nhóm. HS thảo luận nhóm. – HS báo cáo kết quả thảo luận.
– HS nhận xét.
– GV kết luận.
3.3.5. Hoạt động tìm tòi mở rộng
Đọc thêm các đoạn trích, văn bản có liên quan, trao đổi với người thân về nội dung bài học như kể cho người thân nghe về câu chuyện vừa học, hỏi về ý nghĩa của câu chuyện, tìm đọc ở sách, báo, mạng internet… một số nội dung theo yêu cầu.
*Ví dụ:
Tập làm văn: “Tóm tắt văn bản tự sự” – Ngữ Văn 8 – Tập 1
(1) Chuyển giao nhiệm vụ học tập (2) Thực hiện nhiệm vụ học tập
(3) Báo cáo kết quả và thảo luận
(4) Ðánh giá kết quả thực
hiện nhiệm vụ học tập
Tóm tắt một văn bản tự sự mà em đã học ở lớp 8? Sau đó đối chiếu với bản tóm tắt của bạn em. – HS thực hiện ở nhà.

– HS trình bày trước lớp.
– HS nhận xét
– GV nhận xét, ghi điểm.

III. KẾT THÚC VẤN ĐỀ
Khổng Tử từng nói: “Những gì tôi nghe, tôi sẽ quên; những gì tôi thấy, tôi sẽ nhớ; những gì tôi làm, tôi sẽ hiểu”. Để học sinh “nhớ được, hiểu được, làm được” thì nhất định phải thực hiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành năng lực và phẩm chất.
Như vậy, với cách làm này có thể giáo viên sẽ vất vả hơn trong việc tìm kiếm phương pháp, kĩ thuật để tiến hành giờ dạy nhưng bù lại học sinh của chúng ta sẽ có đầy đủ những năng lực cần có để sống tốt hơn, làm việc hiệu quả hơn, đáp ứng yêu cầu của xã hội đang thay đổi từng ngày.

GDE Error: Error retrieving file - if necessary turn off error checking (403:Forbidden)